10 thiên can gồm Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, đại diện cho mười dạng năng lượng ngũ hành âm dương vận động. Trong lá số Bát tự, thiên can của trụ ngày được gọi là Nhật chủ, đóng vai trò hạt nhân thể hiện bản thân người xem mệnh. Mọi quan hệ thập thần, vượng suy hay hợp xung đều lấy can ngày làm điểm quy chiếu nền tảng.
Trong Bát tự, Quý Thủy là thiên can âm thuộc hành Thủy, mang hình tượng của mưa móc, sương mù và mạch nước ngầm thanh khiết. Người có Nhật chủ Quý thường được ví như người thẩm thấu, nổi bật với tính cách trầm tĩnh, linh hoạt, giàu trực giác và khả năng thích nghi mềm mại trước nhiều hoàn cảnh sống khác nhau.
Trong Bát tự, Nhâm Thủy là can dương mang hình tượng của dòng sông lớn và biển cả mênh mông. Người mang Nhật chủ Nhâm thường được ví như người khai phá nhờ tư duy linh hoạt, tầm nhìn thoáng đạt và sức thích nghi cao. Tùy theo cấu trúc tổng thể của tám chữ, năng lượng này có thể định hình phong cách làm việc quyết đoán, khả năng tích lũy tài chính và cách xây dựng các mối quan hệ đời sống.
Tân Kim là thiên can thứ tám trong Bát tự, mang tính âm, đại diện cho châu ngọc quý giá và kim loại đã qua tinh chế rèn giũa. Người có Nhật chủ Tân thường sở hữu nét tinh tế, coi trọng thể diện, có gu thẩm mỹ cao cùng tư duy sắc sảo. Khi luận giải Tân Kim, người luận Bát tự luôn chú trọng xem xét độ vượng suy và sự phối hợp ngũ hành của toàn bộ tám chữ.
Trong Bát tự, thiên can Canh thuộc hành Kim mang tính dương, tượng trưng cho thanh sắt thép hay khối quặng búa rìu chưa qua tôi luyện. Người mang Nhật chủ Canh thường được ví là mẫu người quyết đoán, giàu tinh thần trượng nghĩa, hành động nhanh gọn và không ngại va chạm. Khi phối hợp cùng các trụ khác, Canh Kim cần môi trường tôi luyện phù hợp để bộc lộ hết năng lực thực tế.
Kỷ Thổ là thiên can thứ sáu trong mười thiên can, mang tính âm, đại diện cho đất phù sa, ruộng vườn màu mỡ có khả năng dung dưỡng vạn vật. Trong lá số Bát tự, người có Nhật chủ Kỷ thường mang hình mẫu Người Nuôi Dưỡng với tính cách bao dung, điềm đạm, cẩn trọng và biết lắng nghe. Họ thường phát huy thế mạnh trong việc hỗ trợ, tích lũy và duy trì sự ổn định bền vững.
Mậu Thổ là can dương thứ năm trong Bát tự, mang hình tượng ngọn núi sừng sững hoặc con đê vững chãi. Người có Nhật chủ Mậu thường điềm đạm, coi trọng chữ tín, có sức chịu đựng bền bỉ và tạo cảm giác đáng tin cậy. Trong Bát tự, Mậu cần sự phối hợp cân bằng của Kim, Hỏa hoặc Thủy để phát huy giá trị.
Trong Bát tự, Đinh Hỏa là thiên can mang tính âm, tượng trưng cho ngọn đèn hoặc ánh nến soi gần. Người mang Nhật chủ Đinh được mệnh danh là Người Giữ Lửa với tính cách ấm áp, kiên nhẫn và sâu sắc. Nhờ bản tính Hỏa âm, họ khéo léo trong quan sát, tập trung cao độ vào chuyên môn và đề cao chiều sâu nội tâm hơn sự ồn ào bên ngoài.
Thiên can Bính Hỏa mang tính chất Hỏa dương, mang hình tượng mặt trời chiếu khắp với phong thái cởi mở và chủ động. Trong Bát tự, người có Nhật chủ Bính thường thể hiện năng lượng hướng ngoại, nhiệt tình và rõ ràng. Tuy vậy, việc lá số phát huy được ưu thế hay rơi vào nóng vội còn phụ thuộc vào trạng thái Thân vượng, Thân nhược và sự phối hợp của cả tám chữ.
Theo Bát tự, thiên can Ất thuộc hành Mộc mang tính âm, đại diện cho hình tượng hoa cỏ và dây leo mềm dẻo. Người có Nhật chủ Ất thường thích nghi khéo léo trước hoàn cảnh, giỏi uốn mình theo thời cuộc thay vì đối đầu trực diện. Bản mệnh cần môi trường phù hợp, có sự hỗ trợ của Thủy và Hỏa để sinh trưởng vững vàng.
Trong Bát tự, Giáp Mộc là Mộc dương, mang hình tượng cây đại thụ vững chãi giữa trời đất. Người có Nhật chủ Giáp thường có tính cách như một trụ cột gia đình và tập thể: thẳng thắn, kiên định, thích chở che và luôn nỗ lực vươn lên. Năng lượng này vận hành thuận lợi nhất khi lá số Bát tự có sự cân bằng ngũ hành phù hợp.