Ngoại cách trong Bát tự gồm Chuyên vượng cách và các dạng tòng cách như Tòng Nhi, Tòng Tài, Tòng Sát hay Tòng Cường. Đây là cấu trúc đặc biệt khi Nhật chủ quá vượng hoặc quá suy nhược, khiến ngũ hành lá số nghiêng hẳn về một phía. Thay vì dùng quy tắc phù ức thông thường để cân bằng, người luận Bát tự sẽ thuận theo thế mạnh áp đảo đó để chọn dụng thần.
Dương Nhận cách và Nguyệt Kiếp cách là hai cách cục Bát tự hình thành khi chi tháng nắm lệnh khí Kiếp Tài. Nếu can ngày dương gặp chi tháng tại đất Dương Nhận sẽ lập thành Dương Nhận cách, các trường hợp Kiếp Tài còn lại gọi là Nguyệt Kiếp cách. Nhóm cách này đại diện cho ý chí kiên định, tính cạnh tranh mạnh mẽ, đa số thuộc Thân vượng và rất cần Quan Sát hoặc Thực Thương phối hợp cân bằng.
Kiến Lộc cách trong Bát tự là cách cục hình thành khi chi tháng mang bản khí cùng hành và cùng âm dương với Nhật chủ, tức lệnh tháng nắm thập thần Tỷ Kiên. Người mang cách cục này thường có nội lực tự thân vững vàng, xu hướng độc lập cao. Do khí lệnh tháng trợ giúp bản mệnh rất mạnh, việc luận đoán cần xem xét kỹ tương quan với Tài, Quan, Thực Thương để định rõ vượng suy và dụng thần phù hợp.
Thương Quan cách là một trong tám chính cách của Bát tự, xác định khi chi tháng tàng chứa can mang thập thần Thương Quan và thấu lên các can khác hoặc giữ bản khí lệnh tháng. Năng lượng này đại diện cho sự bộc lộ, sức sáng tạo và tư duy phản biện. Theo Bát tự, người mang cách này thường thông minh, giàu ý tưởng nhưng cần phối hợp đúng ngũ hành để tránh xung đột quyền lực.
Thực Thần cách là một trong tám chính cách của Bát tự, hình thành khi khí Thực Thần ở chi tháng thấu lên các thiên can hoặc nắm giữ bản khí của lệnh tháng. Theo Bát tự, Thực Thần đại diện cho năng lượng tiết tú, tư duy sáng tạo, khả năng biểu đạt và xu hướng hưởng thụ bình hòa. Người mang cách cục này thường khéo léo trong chuyên môn, chú trọng chất lượng cuộc sống và giao tiếp mềm mỏng.
Thiên Ấn cách, còn gọi là Kiêu Ấn cách, hình thành khi chi tháng chứa Thiên Ấn thấu lộ ra các thiên can hoặc nắm bản khí tháng sinh. Đây là cấu trúc chủ về tư duy độc lập, trực giác sắc bén và năng lực tự học chuyên sâu. Khi phối hợp hài hòa với Tài tinh hoặc Quan Sát, cách cục giúp đương số phát huy sự sắc sảo trong chuyên môn.
Chính Ấn cách là một trong tám chính cách của Bát tự, hình thành khi năng lượng Chính Ấn ở chi tháng chiếm vị thế chủ đạo để định cách. Thập thần này đại diện cho ngũ hành sinh dưỡng Nhật chủ khác dấu âm dương, tượng trưng cho học vấn, đạo đức, sự che chở và uy tín cá nhân. Người mang cách cục này thường có xu hướng chú trọng tri thức, sống nguyên tắc và tìm kiếm sự ổn định.
Thiên Tài cách là một trong tám chính cách của Bát tự, hình thành khi khí Thiên Tài ở chi tháng chiếm ưu thế hoặc thấu lên can. Đại diện cho nguồn lực linh hoạt, tiền bạc ngoài lương cố định và khả năng xoay xở nắm bắt cơ hội, cách cục này cho thấy xu hướng nhìn ra giá trị thương mại nhanh nhạy, nhưng cần Thân đủ sức hoặc có yếu tố trợ lực để gánh vác tài vận bền vững.
Chính Tài cách là một trong tám chính cách của Bát tự, xác lập khi chi tháng có tàng can Chính Tài thấu lộ lên các can khác hoặc giữ bản khí Chính Tài. Theo Bát tự, cấu trúc này đại diện cho nguồn tài sản ổn định, tính cách thực tế, nguyên tắc và chú trọng sự an toàn tài chính qua lao động chuyên cần.
Thất Sát cách, còn gọi là Thiên Quan cách, là một chính cách trong Bát tự được xác định khi chi tháng tàng chứa hoặc thấu lộ Thất Sát. Thất Sát đại diện cho uy quyền, kỷ luật thép, áp lực và tinh thần quả quyết. Khi được Thực Thần chế phục hoặc Ấn tinh hóa giải, cách cục này giúp đương số bộc lộ năng lực lãnh đạo, hành động dứt khoát và vượt khó mạnh mẽ.
Chính Quan cách trong Bát tự là cách cục hình thành khi thập thần Chính Quan ở chi tháng thấu lên can hoặc nắm giữ bản khí của lệnh tháng. Thập thần này đại diện cho kỷ luật, nguyên tắc, danh dự và tinh thần trách nhiệm. Theo Bát tự, người mang cách cục này thường coi trọng nếp sống chuẩn mực, có xu hướng tổ chức tốt công việc và gìn giữ chữ tín trong các mối quan hệ xã hội.
Trong Bát tự, cách cục cho biết khung cấu trúc chính và cơ chế vận hành của một lá số. Cách cục được xác định dựa vào tàng can của chi tháng thấu lên các can khác hoặc lấy theo bản khí. Người luận Bát tự phân chia thành mười chính cách theo thập thần cùng các ngoại cách hiếm như tòng cách hay chuyên vượng cách để định hướng công việc và đời sống.