Trong Bát tự, phục ngâm xảy ra khi đại vận hoặc lưu niên trùng hẳn một trụ gốc cả can lẫn chi, còn phản ngâm hay thiên khắc địa xung là hiện tượng can khắc và chi xung cùng lúc. Hai trạng thái này báo hiệu giai đoạn có nhiều biến động hoặc năng lượng của một trụ bị kích hoạt mạnh, cần xét kỹ hỷ kỵ thay vì vội kết luận là điềm xấu.
Địa chi lục phá trong Bát tự gồm sáu cặp: Tý – Dậu, Ngọ – Mão, Thìn – Sửu, Tuất – Mùi, Dần – Hợi và Tị – Thân. Quan hệ phá mang tính chất sứt mẻ, hao hụt nhỏ hoặc vướng mắc ngầm trong kế hoạch, không gây chấn động mạnh như lục xung. Đặc biệt, cặp Dần – Hợi và Tị – Thân vừa hợp vừa phá, tạo nên trạng thái vừa gắn kết vừa có ma sát âm ỉ.
Trong Bát tự, quan hệ hình gồm tam hình Dần – Tị – Thân và Sửu – Tuất – Mùi, tương hình Tý – Mão, cùng tự hình ở bốn chi Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi. Hình thường biểu hiện qua sự va chạm, tranh chấp, kiện tụng hoặc tâm lý tự làm khó mình. Mức độ tác động phụ thuộc vị trí trụ và lưu niên mang tới.
Địa chi lục hại trong Bát tự gồm sáu cặp Tý – Mùi, Sửu – Ngọ, Dần – Tị, Mão – Thìn, Thân – Hợi và Dậu – Tuất. Bản chất của hại là sự cản trở ngầm, ngấm ngầm làm tổn thương hoặc phá vỡ các mối quan hệ lục hợp. Tác động của lục hại thường nhẹ hơn lục xung, biểu hiện qua những bất đồng âm thầm hoặc trắc trở nhỏ trong công việc và các mối quan hệ đời thường.
Địa chi lục xung là sáu cặp địa chi đối diện nhau trên vòng tròn 12 chi, đại diện cho sự xung đột ngũ hành và biến động về phương vị. Trong Bát tự, lục xung báo hiệu trạng thái chuyển động, thay đổi hoàn cảnh hoặc va chạm giữa các trường khí. Đây không phải dấu hiệu của tai họa mà kết quả cát hung phụ thuộc vào tương quan giữa Dụng thần, Hỷ thần hay Kỵ thần.
Địa chi tam hội phương là sự kết hợp của ba địa chi liền kề cùng một phương vị và mùa, bao gồm Dần Mão Thìn (Mộc phương Đông), Tị Ngọ Mùi (Hỏa phương Nam), Thân Dậu Tuất (Kim phương Tây) và Hợi Tý Sửu (Thủy phương Bắc). Tam hội gom toàn bộ khí thế của một hành nên có sức mạnh áp đảo cả tam hợp, làm thay đổi cán cân vượng suy của Nhật chủ.
Trong Bát tự, tam hợp là sự kết hợp của ba địa chi tạo thành một cục ngũ hành mạnh gồm Thân Tý Thìn (Thủy), Hợi Mão Mùi (Mộc), Dần Ngọ Tuất (Hỏa) và Tị Dậu Sửu (Kim). Khi chỉ có hai chi cùng bộ, quan hệ đó gọi là bán hợp. Các chi đứng kề nhau tạo lực liên kết mạnh hơn chi cách xa, và đại vận hoặc lưu niên có thể bổ sung chi để ghép thành cục hoàn chỉnh.
Địa chi lục hợp trong Bát tự gồm sáu cặp chi tương hợp: Tý – Sửu, Dần – Hợi, Mão – Tuất, Thìn – Dậu, Tị – Thân và Ngọ – Mùi. Quan hệ này biểu thị sự gắn kết, hòa hợp và thu hút lẫn nhau giữa các trụ trong lá số hoặc giữa lá số gốc với đại vận, lưu niên. Tùy thuộc vào lệnh tháng và việc hóa khí thành Hỷ thần hay Kỵ thần, lục hợp sẽ đem lại sự trợ lực hoặc ràng buộc.
Thiên can tương xung là quan hệ xung khắc mạnh giữa hai can cách nhau sáu ngôi và cùng tính chất âm dương, gồm bốn cặp: Giáp – Canh, Ất – Tân, Bính – Nhâm, Đinh – Quý. Hai can Mậu và Kỷ ở trung tâm không có cặp xung. Trong lá số Bát tự, can xung ở các trụ đứng kề nhau tạo tác động rõ rệt hơn so với các trụ đứng cách xa.
Thiên can ngũ hợp trong Bát tự gồm năm cặp: Giáp – Kỷ hoá Thổ, Ất – Canh hoá Kim, Bính – Tân hoá Thủy, Đinh – Nhâm hoá Mộc, Mậu – Quý hoá Hỏa. Hai can muốn hoá thành công cần đứng kề nhau và được lệnh tháng ủng hộ. Nếu không đủ điều kiện, quan hệ này dừng ở mức hợp mà không hoá, thể hiện sự gắn kết hoặc ràng buộc giữa các yếu tố trên lá số.
Trong Bát tự, các can chi không đứng riêng lẻ mà liên kết chặt chẽ qua hợp, xung, hình, hại và phá. Các tương tác này phản ánh tính gắn kết, xung đột hay chuyển biến ở công việc, tiền bạc và gia đình. Khi bước vào đại vận và lưu niên, các mối quan hệ can chi tiếp tục biến chuyển, làm thay đổi toàn bộ trạng thái tĩnh của lá số gốc.